Sở giao dịch và clearing
- Sở giao dịch là thị trường tập trung cho hợp đồng chuẩn hóa, phát triển từ diễn đàn giao dịch thành trung tâm quản trị rủi ro đối tác.
- CCP đứng giữa mọi giao dịch: các bên không cần đánh giá tín nhiệm lẫn nhau, đóng vị thế dễ dàng.
- Clearing: đối chiếu, khớp hợp đồng từ lúc cam kết đến settlement. Ba cơ chế giảm rủi ro: clearing qua CCP, margining, netting.
Netting và margining
- Netting gộp các vị thế bù trừ thành một khoản ròng. Bilateral netting theo từng cặp; multilateral netting qua CCP cho mỗi bên một nghĩa vụ ròng duy nhất.
- Variation margin = lãi lỗ hằng ngày (daily settlement); CCP có dòng tiền ròng bằng 0.
- Initial margin bù khoản variation margin bị thiếu và tổn thất khi đóng vị thế. Thứ tự: initial margin → default fund của bên vỡ nợ → default fund của thành viên khác.
- Initial margin do sở quy định theo độ biến động giá; CCP trả lãi trên initial margin, không trả trên variation margin. Ký quỹ bằng chứng khoán bị trừ haircut, haircut tăng theo độ biến động.
Exchange-traded và OTC
- Sở: chuẩn hóa, thanh khoản cao, rủi ro tín dụng thấp. OTC: may đo, thanh khoản thấp, rủi ro tín dụng song phương cao.
- Năm nhóm OTC: lãi suất (khoảng 80% của $531.9 nghìn tỷ cuối 2017), ngoại hối, CDS, cổ phiếu, hàng hóa (nhỏ nhất). Notional phóng đại rủi ro; giá trị thị trường chỉ khoảng 2% notional.
Ký quỹ ngoài CCP, collateral và SPV
- Bán put: ký quỹ = max{(option value + 20% giá cổ phiếu − phần OTM), (option value + 10% strike)} × số option.
- Bán khống: ký quỹ 150%, maintenance 125% giá trị hiện tại; margin call nộp bù về mức maintenance.
- Mua ký quỹ: tỷ lệ = (giá trị cổ phiếu − khoản vay) ÷ giá trị cổ phiếu; dưới maintenance thì nộp bù về maintenance. Giá kích hoạt = khoản vay ÷ [số cổ phiếu × (1 − maintenance margin)].
- Collateral trong OTC (master agreement + CSA) là cơ chế mark-to-market song phương, tương tự margining.
- SPV bankruptcy-remote nhận tài sản từ công ty mẹ, phát hành sản phẩm cấu trúc, thường đạt AAA nên vốn rẻ hơn.