Cây một bước và danh mục phi rủi ro
- Hai trạng thái: giá lên SU hoặc xuống SD. Mua Δ cổ phiếu, bán 1 call sao cho giá trị cuối kỳ như nhau → danh mục phi rủi ro, sinh lợi bằng r → suy ra giá call.
- Không cần xác suất tăng giá thật hay mức ngại rủi ro; chỉ cần hai giá trị cuối kỳ và r (luật một giá, không arbitrage).
Risk-neutral valuation
- U = eσ√Δt, D = 1 ÷ U; πu = (erΔt − D) ÷ (U − D), πd = 1 − πu. Đây không phải xác suất thật.
- Giá quyền chọn = e−rΔt × [πuVup + πdVdown], lùi từng bước về hôm nay.
- σ càng lớn → U lớn, D nhỏ → SU và SD càng xa nhau; σ = 0 thì cây co thành đường thẳng.
- Put-call parity (châu Âu): p = c − S0 + Xe−rT.
Delta
- Δ = (cU − cD) ÷ (SU − SD): số cổ phiếu giữ cho mỗi call bán ra để vị thế phi rủi ro; 1 ÷ Δ = số call mua cho mỗi cổ phiếu bán khống.
- Delta call từ 0 đến 1, delta put từ −1 đến 0; delta thay đổi theo thời gian nên phải tái cân bằng.
Cây hai bước và American option
- Ba giá cuối: S0U2, S0, S0D2; quyền chọn châu Âu: chiết khấu kỳ vọng với xác suất πu2, 2πuπd, πd2.
- American option: ở mọi nút (kể cả hôm nay) lấy max(giá trị nội tại, giá trị tiếp tục nắm giữ). American put thường có thực hiện sớm ở nút giảm sâu.
- American call trên cổ phiếu không trả cổ tức không bao giờ nên thực hiện sớm.
Điều chỉnh mô hình và hội tụ
- Cổ tức q: πu = (e(r − q)Δt − D) ÷ (U − D); chỉ số chứng khoán làm tương tự.
- Ngoại tệ: πu = (e(rDC − rFC)Δt − D) ÷ (U − D). Futures: πu = (1 − D) ÷ (U − D).
- U và D không đổi trong mọi điều chỉnh.
- Tăng số bước (Δt → 0), giá cây nhị thức hội tụ về giá Black-Scholes-Merton, thường dao động quanh giá trị giới hạn.